Ba dòng tế bào, không phải hai mươi kết luận
Xét nghiệm công thức máu, tên đầy đủ là tổng phân tích tế bào máu ngoại vi, đo hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu. Phần công thức bạch cầu chia bạch cầu thành năm loại: bạch cầu trung tính (NEU), lympho (LYM), mono (MONO), ưa acid (EOS) và ưa base (BASO). Mọi dòng khác trên phiếu đều mô tả ba dòng tế bào đó, chẳng hạn huyết sắc tố (HGB), hematocrit (HCT) và MCV cho dòng hồng cầu.
Vì vậy một phiếu có mười tám hay hai mươi tư thông số không phải là mười tám hay hai mươi tư phát hiện. Đó là ba câu hỏi kèm chi tiết hỗ trợ, và chính chi tiết đó giúp trả lời từng câu hỏi.
Hai hình ảnh giúp phân biệt các dòng. Bạch cầu trung tính là tuyến đầu, giống lính cứu hỏa luôn đến hiện trường trước tiên. Tiểu cầu là những miếng vá nhỏ của máu, giống miếng vá bịt kín lốp xe bị thủng.
Các đơn vị trên phiếu công thức máu ở Việt Nam
Phần lớn phòng xét nghiệm ở Việt Nam in kết quả theo đơn vị quốc tế. Bạch cầu và tiểu cầu tính bằng G/L (tức 10⁹ tế bào trong một lít máu), hồng cầu bằng T/L (10¹² tế bào/L), huyết sắc tố bằng g/L, MCV bằng fL. Theo Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, ở người trưởng thành bạch cầu bình thường khoảng 4,0–10,0 G/L, tiểu cầu 150–450 G/L, huyết sắc tố 130–160 g/L ở nam và 120–142 g/L ở nữ.
Những con số này chỉ để định hướng. Khoảng tham chiếu in trên phiếu của bạn mới là khoảng phòng xét nghiệm dùng để đánh dấu kết quả, và nó có thể khác vài đơn vị. Một số phiếu in huyết sắc tố bằng g/dL: 13,5 g/dL chính là 135 g/L, không phải một kết quả thấp gấp mười lần.
Công thức máu và công thức bạch cầu
Phần đếm cơ bản chỉ cho bạn tổng số bạch cầu. Phần công thức bạch cầu đếm thêm từng loại, và chính điều đó biến một tổng số tăng hay giảm thành một câu hỏi có thể bắt đầu trả lời. Máy đếm tự động ở các bệnh viện đã làm việc phân loại này, nên phiếu thường in cả tỷ lệ phần trăm và số lượng tuyệt đối của từng loại.
Mỗi loại có một nhiệm vụ riêng, nên cùng một tổng số có thể mang ý nghĩa khác nhau tùy loại nào chiếm phần lớn.
- Bạch cầu trung tínhLoại bạch cầu phổ biến nhất, là hàng phòng thủ chính khi vi khuẩn, virus hay tác nhân khác xâm nhập.
- Bạch cầu lymphoTế bào B chống lại virus, vi khuẩn và độc tố; một số tế bào T tiêu diệt tế bào bị nhiễm.
- Bạch cầu monoTiêu diệt vi trùng, tăng cường phản ứng miễn dịch và dọn dẹp tế bào chết.
- Ưa acid và ưa baseChống ký sinh trùng và tham gia phản ứng dị ứng, hen suyễn.
Các chỉ số được đọc cùng nhau thế nào
Huyết sắc tố đi cùng MCV là cặp kinh điển. Huyết sắc tố thấp cho biết có thiếu máu; MCV bắt đầu cho biết loại thiếu máu nào. Theo Viện Huyết học, MCV dưới 80 fL là hồng cầu nhỏ, trên 100 fL là hồng cầu to, và mỗi nhóm hướng về những nguyên nhân khác nhau. Nếu cùng lần lấy máu có ferritin trên cùng phiếu, chỉ số đó thường giúp phân định.
Bạch cầu được đọc cả tổng số lẫn từng loại. Tổng số tăng do bạch cầu trung tính gợi ý một hướng, tổng số tăng do lympho gợi ý hướng khác, và không hướng nào là chẩn đoán.
Tiểu cầu được đọc cùng chỉ số riêng của nó, thể tích trung bình tiểu cầu (MPV), mô tả kích thước trung bình của tiểu cầu chứ không phải số lượng.
Hồng cầu nhỏ không phải lúc nào cũng là thiếu sắt
Ở Việt Nam, câu hỏi này đặc biệt quan trọng. Theo tổng quan của Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương, khoảng 13,8% dân số mang gen tan máu bẩm sinh (thalassemia); một nghiên cứu sàng lọc trên 5.880 thai phụ tìm thấy tỷ lệ 13,13%. Người mang gen thường khỏe mạnh, nhưng có thể có hồng cầu nhỏ với MCV và MCH thấp, rất dễ bị nhầm với thiếu máu do thiếu sắt.
Viện Huyết học khuyên không tự uống viên sắt khi chưa rõ nguyên nhân: sắt không cải thiện thiếu máu do thalassemia và có thể làm tăng nguy cơ thừa sắt. MCV và MCH thấp chỉ là dấu hiệu gợi ý, không đủ để tự kết luận; ferritin, và khi cần là xét nghiệm huyết sắc tố hoặc xét nghiệm gen, mới phân biệt được. Nếu MCV của bạn luôn thấp trên mọi phiếu mà ferritin bình thường, đó là câu hỏi đáng nêu với bác sĩ.
Xét nghiệm công thức máu có thể cho thấy dấu hiệu gì
Công thức máu là một cái nhìn rộng ban đầu chứ không phải xét nghiệm cho riêng một bệnh nào. Các dòng hồng cầu có thể cho thấy thiếu máu; các dòng bạch cầu có thể hướng về nhiễm trùng, phản ứng viêm hay dị ứng, hoặc một vấn đề ở tủy xương; dòng tiểu cầu giúp giải thích tình trạng dễ bầm tím hay chảy máu, chẳng hạn tiểu cầu giảm khi sốt xuất huyết.
Danh sách nguyên nhân có thể dài theo cả hai chiều. Bạch cầu cao có thể do nhiễm trùng, bệnh viêm hoặc tự miễn, dị ứng, thuốc corticoid, hay một bệnh ung thư máu như bệnh bạch cầu. Bạch cầu thấp có thể theo sau một số kháng sinh, hóa trị, HIV hay một bệnh tủy xương. Chính sự trải rộng đó khiến công thức bạch cầu, các dòng khác và lý do làm xét nghiệm quan trọng hơn con số tổng.
Vì sao người khỏe mạnh vẫn bị đánh dấu ở đây
Công thức máu có nhiều dòng, và mỗi khoảng tham chiếu được đặt sao cho khoảng 1 trên 20 người khỏe nằm ngoài. Trên một phiếu dài như vậy, người hoàn toàn khỏe vẫn dễ có một dòng bị đánh dấu hơn là không có dòng nào.
Cuộc sống hằng ngày cũng làm các dòng này dịch chuyển. Chế độ ăn, mức vận động, thuốc, kỳ kinh nguyệt hay không uống đủ nước đều có thể thay đổi công thức máu, và một giá trị bất thường không phải lúc nào cũng là bệnh cần điều trị.
Hút thuốc là lời giải thích ít ai nhắc đến, trong khi khảo sát STEPS 2021 ghi nhận 41,1% đàn ông Việt Nam đang hút thuốc. Khi so sánh người hút thuốc khỏe mạnh với người không hút, các nghiên cứu thấy bạch cầu, huyết sắc tố và hematocrit cao hơn ở người hút, và hút càng nhiều thì chênh lệch càng lớn. Một bạch cầu tăng ở người hút thuốc thường có lời giải thích đơn giản hơn nhiễm trùng.
Khi nào cần lo về kết quả công thức máu
Hãy hỏi lệch bao xa, đừng chỉ hỏi có lệch không. Tiểu cầu 145 G/L với giới hạn dưới 150 và tiểu cầu 40 G/L in cùng một dấu hiệu nhưng mang ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Sau đó so với công thức máu trước đây của chính bạn nếu có. Một giá trị ổn định, hơi lệch khỏi khoảng tham chiếu, khác hẳn với cùng giá trị đó xuất hiện lần đầu.
Những điều cần trao đổi sớm chứ không chờ lần khám thường lệ: một giá trị lệch xa khỏi khoảng tham chiếu, nhiều dòng cùng thay đổi, chẳng hạn hồng cầu, bạch cầu và tiểu cầu cùng thấp trên một phiếu, hoặc một dòng bị đánh dấu đi kèm sốt, bầm tím hay chảy máu bất thường.